TCTM - Đầu Xuân Bính Ngọ 2026, Phóng viên Tạp chí Thang máy đã có cuộc trò chuyện thú vị cùng ông Nguyễn Hải Đức, Chủ tịch Hiệp hội Thang máy Việt Nam (VNEA).
Lời tòa soạn: Qua cuộc trò chuyện thú vị này, chúng tôi nhận ra ở ông ba dấu ấn đáng chú ý đối với ngành thang máy Việt Nam: Đưa khái niệm “thang máy gia đình” tới thị trường Việt Nam; khởi xướng việc hình thành Hiệp hội Thang máy Việt Nam; và tiên phong, mở lối đưa nghệ thuật vào thiết kế thang máy!
Khi nhắc đến hành trình của ngành thang máy Việt Nam, ông Nguyễn Hải Đức – Chủ tịch VNEA không bắt đầu bằng những con số hay báo cáo thị trường. Ông thường kể bằng những câu chuyện – những câu chuyện nhỏ nhưng lại đánh dấu những bước chuyển quan trọng của ngành.
Bên ấm trà sen tỏa hương nhè nhẹ trong tiết đầu Xuân, Chủ tịch VNEA Nguyễn Hải Đức nhớ lại những ngày đầu của một ý tưởng từng bị xem là… khá kỳ quặc và lạ lẫm.
Ông kể, gần 20 năm trước, thang máy tại Việt Nam hầu như chỉ xuất hiện trong các tòa nhà, văn phòng, khách sạn hoặc công trình quy mô lớn. Trong quá trình làm nghề, ông đặc biệt chú ý đến kiến trúc nhà ở tại các đô thị Việt Nam – nhất là kiểu nhà ống, nhà phố cao tầng nhưng mặt bằng hẹp. Những ngôi nhà như vậy thường khó đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của thang máy truyền thống, vốn đòi hỏi hố pit sâu hoặc chiều cao tầng trên cùng lớn.
“Lúc đó tôi nghĩ: Tại sao không tìm một loại thang máy nhỏ gọn hơn, linh hoạt hơn, phù hợp với chính kiểu nhà đặc thù này?”- ông nhớ lại.
Trong khi ở Việt Nam, kiểu thang máy này vẫn còn khá xa lạ, thì tại nhiều quốc gia, dòng thang máy mini dành riêng cho nhà ở đã trở nên quen thuộc. Loại thang này thường được gọi là HomeLift - một giải pháp thang máy gọn nhẹ, thiết kế chuyên biệt cho nhà ở, biệt thự liền kề hoặc các công trình cải tạo có diện tích hạn chế.
Ý tưởng ấy thôi thúc ông tìm kiếm đối tác quốc tế để đưa giải pháp này về Việt Nam. Cơ duyên đưa đến sự hợp tác với IGV Group - một tập đoàn thang máy của Ý thành lập năm 1966, nằm trong nhóm 500 doanh nghiệp phát triển nhất Châu Âu, từ đó mở ra bước khởi đầu cho dòng thang máy gia đình tại thị trường Việt Nam.
Khi được hỏi về phản ứng của thị trường lúc bấy giờ, ông bật cười, đôi mắt ánh lên vẻ hào hứng khi nhớ lại những ngày đầu mở lối: “Hồi đó nhiều người cứ cười chúng tôi. Họ nói thang máy chỉ để lắp ở văn phòng, công sở…, còn ở nhà thì đi cầu thang bộ cho khỏe, lắp thang máy làm gì?”
“Chiếc thang máy gia đình đầu tiên được chúng tôi lắp đặt tại số 06 phố Văn Cao, Hà Nội. Khi ấy, việc thi công kéo dài tới ba tháng. Dù đã nhận được chuyển giao công nghệ và hướng dẫn từ phía nhà sản xuất, nhưng tại Việt Nam chưa hề có tiền lệ để tham khảo, cũng không có người đi trước để chỉ dẫn. Vì vậy, từng công đoạn đều phải vừa thực hiện, vừa tìm tòi, thử nghiệm và hoàn thiện dần trong quá trình làm. Có những hôm cứ đến bữa ăn, bê bát cơm lên là chủ nhà lại gọi điện la lối vì việc lắp đặt kéo dài quá lâu, nghẹn không nuốt được” - ông nhớ lại, nở nụ cười của người từng bị phàn nàn nhưng vẫn đầy tự hào. “Đến bây giờ, chiếc thang ấy vẫn vận hành bền bỉ, ổn định và gia chủ thì hoàn toàn hài lòng”.
Từ công trình đầu tiên ấy, dòng thang máy gia đình công nghệ thủy lực – không cần hố pit sâu và đặc biệt phù hợp với nhà phố – dần được giới thiệu rộng rãi tại Việt Nam.
“Nếu như gần 20 năm trước, việc lắp đặt một chiếc thang máy gia đình mất tới ba tháng, thì ngày nay quá trình này chúng tôi chỉ làm trong khoảng ba ngày” - Chủ tịch VNEA chia sẻ.
Và điều từng bị xem là “ý tưởng kỳ lạ” nay đã trở thành xu hướng phổ biến: Tại các đô thị, những ngôi nhà từ ba tầng trở lên thường được thiết kế sẵn vị trí lắp đặt thang máy.
Ông mỉm cười khi nhắc lại hành trình ấy: Có thể nói chúng tôi là những người đầu tiên đưa ra và định hình khái niệm “thang máy gia đình” tại Việt Nam. Từ một ý tưởng nhỏ, nó đã mở ra một phân khúc thị trường hoàn toàn mới.
Sau hơn hai thập kỷ gắn bó với nghề, ông Nguyễn Hải Đức cho rằng bức tranh ngành thang máy Việt Nam từng tồn tại nhiều nghịch lý. Trong khi các tập đoàn đa quốc gia sở hữu nguồn vốn và năng lực công nghệ mạnh, thì nhiều doanh nghiệp trong nước vẫn hoạt động rời rạc, manh mún, quy mô nhỏ, cạnh tranh theo lối mòn.
Thay vì dựa trên tri thức, trí tuệ và đổi mới sáng tạo, không ít doanh nghiệp lại chạy theo cách làm dễ dãi: bắt chước lẫn nhau, nhập linh kiện giá rẻ, giảm giá bán bằng cách cắt giảm những chi phí vốn phải được đảm bảo như chất lượng thiết bị lắp đặt, vận hành, bảo trì hay thu nhập của người lao động.
Hệ quả là doanh nghiệp khó tạo ra lợi nhuận bền vững, người lao động thiếu động lực phát triển nghề nghiệp, còn người sử dụng phải đối mặt với những rủi ro về an toàn. “Một ngành nghề không thể lớn mạnh nếu chỉ cạnh tranh bằng cách hạ giá và giảm chất lượng. Muốn đi xa, phải cạnh tranh bằng tri thức, trí tuệ, hiệu suất và bằng sự đổi mới” - ông chia sẻ.
Từ những trăn trở đó, ý tưởng xây dựng một cộng đồng nghề nghiệp có tổ chức đã hình thành. Theo ông, ngành thang máy cần một tiếng nói chung để kết nối doanh nghiệp, định hình chuẩn mực và thúc đẩy sự phát triển lành mạnh.
Đó cũng là lý do thôi thúc và quy tụ những người cùng chí hướng cho sự ra đời của Ban Vận động thành lập Hiệp hội Thang máy Việt Nam, họ mang theo nhiệt huyết và khát vọng, xây dựng Đề án và làm thủ tục xin phép Cơ quan quản lý nhà nước cho phép thành lập Hiệp hội Thang máy Việt Nam vào năm 2020 - như một “ngôi nhà chung” của cộng đồng thang máy Việt Nam.
“Hiệp hội được thành lập để kết nối, nâng cao năng lực, tiêu chuẩn hóa kỹ thuật, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và lợi ích chung của xã hội. Chỉ khi gieo nhân lành như vậy, người làm nghề và các doanh nghiệp trong ngành thang máy mới có cơ hội phát triển bền vững và được ghi nhận xứng đáng” - ông khẳng định.
Theo quan điểm của ông Đức, nền tảng của mọi sự phát triển bền vững phải bắt đầu từ tiêu chuẩn và quy chuẩn. “Không có tiêu chuẩn thì không thể nói tới phát triển” - ông nhấn mạnh. “Tiêu chuẩn không chỉ là chuẩn mực của sản phẩm, mà còn là chuẩn mực của con người – người làm nghề phải được đào tạo, đánh giá và chuẩn hóa năng lực một cách bài bản; đồng thời xã hội cũng cần nâng cao nhận thức về vai trò của tiêu chuẩn trong đảm bảo an toàn và chất lượng dịch vụ”.
Từ định hướng đó, nhiều bước đi nền tảng đã được triển khai trong hệ sinh thái ngành. Các tổ chức nòng cốt đã được thành lập như Viện Kỹ thuật ứng dụng thang máy, Trung tâm Đào tạo thang máy… Các hoạt động nghiên cứu, đào tạo và xây dựng tiêu chuẩn nghề nghiệp được thúc đẩy, từng bước hình thành một cấu trúc phát triển dài hạn cho ngành thang máy Việt Nam.
Sau khoảng thời gian nghiên cứu và xây dựng, năm 2024, Hiệp hội Thang máy Việt Nam đã chính thức công bố Từ điển ngành thang máy, chuẩn hóa và sắp xếp hệ thống các thuật ngữ, khái niệm trong lĩnh vực thang máy.
Tháng 3/2024, Hiệp hội công bố TCCS 01:2023/VNEA - đây là tiêu chuẩn cơ sở đầu tiên về yêu cầu an toàn chung trong quản lý, sử dụng, bảo trì và sửa chữa thang máy, khuyến cáo tuổi thọ thiết bị, đảm bảo thang máy hoạt động an toàn, hiệu quả.
Tiếp đó, TCCS 02:2024/VNEA được ban hành nhằm chuẩn hóa định mức lao động trong bảo trì và sửa chữa thang máy. Bộ tiêu chuẩn này xác lập các tiêu chí về thời gian công việc, số lượng nhân sự và yêu cầu chất lượng tay nghề, góp phần chuyên nghiệp hóa dịch vụ kỹ thuật và nâng cao mức độ an toàn trong vận hành thang máy tại Việt Nam.
Tọa đàm Quốc tế: Lấy ý kiến Dự thảo Tiêu chuẩn Quốc gia ngành thang máy Việt Nam do Viện Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam phối hợp Hiệp hội Thang máy Việt Nam tổ chức tháng 12/2025
Từ cuối năm 2025, Hiệp hội và Viện Tiêu chuẩn chất lượng Việt Nam (VSQI) đã ký Biên bản hợp tác chiến lược trong việc hoàn thiện hệ thống Tiêu chuẩn quốc gia ngành thang máy, trái ngọt đầu tiên của quá trình hợp tác này sẽ là TCVN: Thang máy – Yêu cầu chung trong vận hành, bảo trì, sửa chữa và sử dụng dự kiến hoàn thành và ban hành trong Quý III năm 2026.
Theo ông Nguyễn Hải Đức, việc hình thành hệ thống tiêu chuẩn ngành không chỉ giải quyết những bất cập trước mắt, mà còn tạo nền móng cho sự phát triển dài hạn. “Khi có chuẩn mực chung, doanh nghiệp sẽ cạnh tranh bằng năng lực và sáng tạo. Và khi đó, cả ngành mới có thể phát triển bền vững” - ông nói.
Trao đổi cùng phóng viên, ông Nguyễn Hải Đức chia sẻ, trong một thời điểm nhất định, công nghệ thang máy có thể đạt đến những ngưỡng phát triển mà việc cải tiến không còn diễn ra nhanh như mong muốn. Khi đó, giá trị của sản phẩm không chỉ nằm ở kỹ thuật hay công năng, mà còn ở trải nghiệm không gian và chiều sâu văn hóa mà nó mang lại.
“Cuộc sống của con người đã chuyển từ ăn no, mặc ấm sang ăn ngon, mặc đẹp. Vì thế, thang máy cũng không thể chỉ dừng lại ở nhu cầu cơ bản - phục vụ việc di chuyển an toàn mà phải đáp ứng nhu cầu nâng cao - thể hiện sự kết nối xã hội, đẳng cấp, hướng tới cá nhân hóa, nơi thang máy trở thành "tuyên ngôn" và bản sắc của cá nhân, tổ chức hay công trình”.
Từ góc nhìn ấy, ông là người tiên phong với ý tưởng đưa bản sắc, nghệ thuật và câu chuyện vào thiết kế thang máy. Theo ông, mỗi công trình đều có một “ngôn ngữ” và tinh thần riêng, vì thế thang máy không thể là một chi tiết lạc lõng trong tổng thể kiến trúc.
Thang máy trong bệnh viện sẽ khác với thang máy ở các tòa nhà công sở; thang máy tại bảo tàng, trường học hay khách sạn… cũng cần hòa vào ngôn ngữ thiết kế chung để “kể” câu chuyện về văn hóa, kiến trúc và bản sắc của không gian mà nó hiện diện. Khi vượt ra ngoài công năng thuần túy, thang máy không chỉ là phương tiện di chuyển, mà còn có thể trở thành một sản phẩm văn hóa – nơi lưu giữ dấu ấn thẩm mỹ và tinh thần của thời đại.
Cũng từ ý tưởng đó, hiện ông đang ấp ủ kế hoạch phối hợp với Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam tổ chức một triển lãm về sơn mài Việt Nam, kết nối nghệ thuật hội họa với không gian thang máy để kể câu chuyện về sơn ta trong hành trình lịch sử. Triển lãm dự kiến mang chủ đề “Sơn ta, đất Tổ - Hành trình một thế kỷ”, như một cách gợi mở sự gặp gỡ giữa nghệ thuật truyền thống và không gian kiến trúc đương đại, mở đầu một hành trình cho thang máy “Made in Vietnam” bước ra thế giới, bởi nếu chỉ đi bằng công năng thuần túy thì chúng ta khó có thể cạnh tranh với các nước Châu Âu, nhưng bằng văn hóa và hồn cốt dân tộc, sản phẩm Việt Nam hoàn toàn có thể tạo nên dấu ấn riêng.
Theo ông Nguyễn Hải Đức, đó là một hướng phát triển mới của ngành thang máy Việt Nam: “Chúng tôi đã bắt đầu thực hiện điều đó và tin rằng trong tương lai, cách tiếp cận này sẽ lan tỏa rộng hơn, để thang máy không chỉ là một thiết bị kỹ thuật, mà còn là một phần của giá trị văn minh mà con người tạo dựng. Hi vọng 20 năm sau, chúng ta lại thấy điều đó là đúng…. (cười)… Khi đấy, tôi đã hơn 70 tuổi rồi…”.
Kết thúc câu chuyện, ông Đức chia sẻ một suy nghĩ giản dị: “Tôi luôn tin rằng mỗi giai đoạn phát triển của ngành đều cần những người tiên phong dám nghĩ và dám làm. Những bước đi ban đầu có thể nhỏ. Nhưng nếu được thực hiện với tinh thần trách nhiệm, sự kiên định, quyết tâm và khát vọng sáng tạo, chúng sẽ tạo nên những thay đổi lâu dài”.
Với ngành thang máy Việt Nam, hành trình ấy - theo ông – vẫn đang tiếp tục mở ra những tầng cao mới.
TCTM - Hiệp hội Thang máy Kazakhstan vừa gửi công thư tới Hiệp hội Thang máy Trung Quốc, phản ánh tình trạng một số nhà sản xuất Trung Quốc bán trực tiếp thiết bị cho các công ty xây dựng tại Kazakhstan, không thông qua đại diện được chỉ định. Theo phía Kazakhstan, cách làm này không phù hợp với Tiêu chuẩn Quốc gia và tiềm ẩn rủi ro an toàn cũng như trách nhiệm bảo hành.