15.07.2025

Tích hợp RFID để mở đường cho thang máy thông minh trong nhà ở xã hội

  • 0
Thứ sáu, 12/6/2026 | 15:43
TCTM - Nhiều tòa nhà nhà ở xã hội đã sở hữu một phần quan trọng của hệ thống thang máy thông minh: dữ liệu từ thẻ RFID. Nếu được tích hợp với các thuật toán điều phối phù hợp, hạ tầng sẵn có này có thể giúp giảm thời gian chờ, tiết kiệm điện năng và nâng cao chất lượng phục vụ mà không cần thay đổi lớn về thiết bị.

Cơ hội bị bỏ lỡ ngay trước mắt

Hệ thống điều phối điểm đến (Destination Dispatch Systems - DDS) đã được triển khai rộng rãi tại các tòa nhà văn phòng cao cấp và khách sạn trong hơn một thập kỷ. Bằng cách phân công thang máy cho hành khách dựa trên điểm đến trước khi lên thang, DDS giúp giảm số lần dừng trung gian, cải thiện năng lực phục vụ và giảm tiêu thụ năng lượng. Tại Việt Nam, công nghệ này mới chủ yếu xuất hiện ở các dự án thương mại cao cấp hoặc nhà ở hạng sang, trong khi mức độ phổ cập tại phân khúc nhà ở đại chúng vẫn còn hạn chế.

Việc áp dụng trong lĩnh vực nhà ở xã hội Việt Nam gần như chưa đáng kể - chủ yếu do chi phí phần cứng bổ sung được cho là quá cao: ki-ốt tại sảnh, bộ điều khiển độc quyền và phí tích hợp hệ thống khiến công nghệ này khó phù hợp với các công trình nhà ở ngân sách thấp.

Điều thường bị bỏ qua là một thành phần quan trọng của hệ thống điều phối điểm đến vốn đã được lắp đặt trong nhiều tòa nhà: hệ thống kiểm soát truy cập bằng thẻ RFID.

Phần lớn dữ liệu từ thẻ RFID hiện chỉ được dùng để kiểm soát truy cập, chưa được tận dụng để tối ưu vận hành thang máy.

Phần lớn dữ liệu từ thẻ RFID hiện chỉ được dùng để kiểm soát truy cập, chưa được tận dụng để tối ưu vận hành thang máy.

Từ kiểm soát truy cập đến điều phối thông minh

Trong nhiều khu dân cư mới, đầu đọc thẻ RFID được sử dụng để hạn chế quyền truy cập tầng. Cư dân chạm thẻ, và hệ thống chỉ cho phép vào tầng được chỉ định của họ. Về mặt kỹ thuật, điều này có nghĩa là hệ thống đã biết ba thông tin quan trọng: Danh tính của hành khách; Tầng đích mặc định của họ; Thời điểm họ đến sảnh thang máy

Tuy nhiên, các thông tin này phần lớn chưa được sử dụng để tối ưu hóa điều phối. Thang máy vẫn tiếp tục hoạt động theo logic điều khiển tập thể thông thường - chờ nhấn nút, dừng ở nơi có người gọi, chưa nhóm hành khách theo điểm đến và chưa tối ưu hóa lộ trình theo thời gian thực.

Về bản chất, hệ thống đang thu thập đúng dữ liệu nhưng không hành động dựa trên đó.

Trên thế giới, việc tích hợp hệ thống kiểm soát truy cập với điều phối điểm đến đã được nhiều hãng thang máy lớn triển khai trong hơn một thập niên qua tại các cao ốc văn phòng, khách sạn và khu căn hộ cao cấp. Điều đó cho thấy công nghệ này đã được kiểm chứng trong thực tế.

Kiến trúc hệ thống: điều phối tự động kết hợp ghi đè thủ công

Việc tích hợp kiểm soát truy cập RFID với thuật toán điều phối điểm đến tạo ra một tầng phần mềm kết nối ba thành phần hiện có:

Tầng 1 - Đầu đọc RFID (đầu vào): Cư dân chạm thẻ → hệ thống ghi nhận ID, các tầng được phép và thời điểm truy cập.

Tầng 2 - Công cụ tối ưu điều phối (phần mềm): Truy xuất tầng đích mặc định từ cơ sở dữ liệu cư dân; thu thập dữ liệu thời gian thực từ các lần quét tại sảnh; nhóm hành khách có điểm đến giống nhau hoặc gần nhau; chọn thang máy và trình tự phục vụ tối ưu.

Tầng 3 - Bộ điều khiển nhóm thang máy (thực thi): Nhận lệnh điều phối; phân công thang máy; xác định thứ tự phục vụ; gửi lệnh đến từng cabin; giám sát trạng thái thời gian thực (vị trí, tải trọng, sự cố).

Điểm quan trọng là thiết kế này không nhất thiết yêu cầu thêm thiết bị giao diện hành khách tại sảnh. Nó tận dụng cơ sở hạ tầng hiện có: đầu đọc RFID đã được lắp đặt, bộ điều khiển thang máy đã có sẵn và mạng nội bộ của tòa nhà. Chi phí tăng thêm chủ yếu nằm ở lớp tích hợp phần mềm.

tich-hop-rfid-de-mo-duong-cho-thang-may-thong-minh-trong-nha-o-xa-hoi-4639168783511004050

Xử lý các chuyến đi ngoài mặc định

Trong môi trường dân cư, không phải tất cả các chuyến đi đều theo một mô hình có thể dự đoán. Cư dân có thể thăm hàng xóm hoặc người thân, sử dụng các tiện ích chung (bãi đỗ xe, tầng mái, phòng gym, khu sinh hoạt cộng đồng), hoặc phục vụ truy cập dịch vụ, giao hàng và bảo trì.

Thay vì thiết kế lại hệ thống để xử lý mọi ngoại lệ ngay tại sảnh, cách tiếp cận thực tế hơn là tối ưu hóa cho trường hợp đa số, đồng thời vẫn giữ khả năng ghi đè thủ công bên trong cabin:

- RFID xác định điểm đến mặc định - không cần nhấn nút cho đa số các chuyến đi

- Nút bấm trong cabin vẫn được giữ lại để ghi đè thủ công và bảo đảm vận hành an toàn

- Ghi đè chỉ giới hạn ở các tầng được phép - bảo mật không bị ảnh hưởng

- Ghi đè xảy ra sau khi phân công, chỉ ảnh hưởng đến chuyến đi của một hành khách, không ảnh hưởng đến toàn hệ thống

Trong môi trường dân cư có tính dự đoán cao, có thể giả định 80 - 90% chuyến đi tuân theo mô hình mặc định, chỉ 10 - 20% cần ghi đè. Do đó, hiệu quả hệ thống tổng thể vẫn có thể duy trì ở mức cao so với kịch bản tối ưu lý thuyết ngay cả khi tính năng ghi đè được bật đầy đủ.

Giải pháp đề xuất không yêu cầu thu thập thêm dữ liệu cá nhân ngoài những thông tin đã tồn tại trong hệ thống kiểm soát truy cập. Việc triển khai cần tuân thủ các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo đảm mã hóa, phân quyền và lưu vết truy cập theo quy định hiện hành.

Con số thực tế: Hệ thống này mang lại gì?

Giá trị cốt lõi của điều phối nâng cao không nằm ở việc giảm số lượng thang máy - các tòa nhà ở xã hội tại Việt Nam thường đã được thiết kế theo yêu cầu tối thiểu của quy định và mỗi giếng thang đều cần thiết. Giá trị nằm ở việc giúp mỗi thang máy hiện có hoạt động hiệu quả và thông minh hơn trong toàn bộ vòng đời vận hành.

Hiệu quả hoạt động có thể tham khảo từ dữ liệu quốc tế và các kịch bản mô phỏng:

tich-hop-rfid-de-mo-duong-cho-thang-may-thong-minh-trong-nha-o-xa-hoi-1639168771879943904

Tiết kiệm năng lượng ở quy mô quốc gia:

Một tòa nhà nhà ở xã hội 20 tầng điển hình với 3 thang máy có thể tiêu thụ khoảng 60.000 kWh mỗi năm. Nếu giảm 20 - 27% nhờ điều phối thông minh, mức tiết kiệm tương ứng vào khoảng 12.000 - 16.000 kWh mỗi năm cho mỗi tòa nhà. Với giả định đơn giá điện bình quân khoảng 2.050 VND/kWh:

tich-hop-rfid-de-mo-duong-cho-thang-may-thong-minh-trong-nha-o-xa-hoi-2639168772113173856

Lợi ích khó định lượng hơn: thời gian và chất lượng sống

Cải thiện khoảng 30% năng lực phục vụ trong giờ cao điểm có nghĩa là cùng ba thang máy đó có thể vận chuyển nhiều cư dân hơn trong cùng khung thời gian vào buổi sáng và buổi tối. Đối với tòa nhà 200 hộ gia đình, khi nhiều gia đình cùng đi làm hoặc đi học trong vòng 30 phút, đây có thể là sự khác biệt giữa hàng chờ có thể kiểm soát và trải nghiệm bực bội lặp lại mỗi ngày trong 30–50 năm.

Trong bối cảnh Việt Nam đang triển khai chương trình xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội đến năm 2030, mỗi phần trăm hiệu quả vận hành đạt được hôm nay sẽ được nhân lên trong suốt 30 - 50 năm khai thác sau này. Nếu hàng chục nghìn thang máy được lắp đặt trong giai đoạn tới đều có khả năng tận dụng dữ liệu RFID để tối ưu điều phối, tổng giá trị tiết kiệm điện năng, giảm phát thải carbon và nâng cao chất lượng sống của cư dân có thể đạt tới quy mô hàng nghìn tỷ đồng trong vòng đời công trình.

Câu hỏi về các nhà sản xuất

Một câu hỏi thực tế chắc chắn sẽ được đặt ra: liệu các nhà sản xuất thang máy có đồng ý mở hệ thống của họ cho tích hợp phần mềm bên thứ ba không? Câu trả lời thực tế là họ không phải lúc nào cũng tự nguyện làm điều đó. Bộ điều khiển độc quyền và hệ sinh thái đóng là một phần của mô hình kinh doanh tạo ra doanh thu dài hạn thông qua hợp đồng bảo trì và nâng cấp phần mềm.

Nhưng mục tiêu không phải là yêu cầu nhà sản xuất mở mã nguồn - mà là yêu cầu họ hỗ trợ giao thức tích hợp mở tiêu chuẩn như điều kiện để thắng hợp đồng mua sắm của chính phủ. Đây là hai điều hoàn toàn khác nhau. Các nhà sản xuất lớn bao gồm Orona, KONE, Schindler và Otis đã cung cấp giao thức tích hợp mở cho hệ thống quản lý tòa nhà bên thứ ba trong các sản phẩm cao cấp của họ - không phải vì họ muốn, mà vì khách hàng cao cấp yêu cầu.

Chỉ thị của Liên minh châu Âu về chuẩn sạc chung USB-C là một ví dụ song song hiện đại. Không phải nhà sản xuất nào cũng hoan nghênh yêu cầu đó, nhưng để tiếp cận một thị trường lớn, họ buộc phải điều chỉnh sản phẩm theo tiêu chuẩn chung. Chương trình nhà ở xã hội của Việt Nam, đại diện cho hàng trăm nghìn đến hàng triệu căn hộ trong thập kỷ tới, có thể tạo ra quy mô thị trường đủ lớn để hình thành đòn bẩy tương tự.

Từ góc độ chính sách, đây có thể là thời điểm thích hợp để xem xét bổ sung yêu cầu về khả năng tích hợp mở trong các dự án nhà ở xã hội và các công trình sử dụng vốn nhà nước. Yêu cầu này không đồng nghĩa với việc buộc các nhà sản xuất phải công khai mã nguồn hay từ bỏ công nghệ độc quyền của mình. Điều cần thiết là các bộ điều khiển nhóm thang máy phải hỗ trợ các giao thức giao tiếp tiêu chuẩn, cho phép kết nối với hệ thống quản lý tòa nhà, hệ thống kiểm soát truy cập và các nền tảng dữ liệu vận hành được cấp phép.

Nếu chương trình phát triển ít nhất một triệu căn hộ nhà ở xã hội của Việt Nam được triển khai trong giai đoạn tới với định hướng này, thị trường sẽ hình thành động lực đủ mạnh để thúc đẩy đổi mới công nghệ trong toàn ngành. Khi đó, cùng một hệ thống thang máy có thể liên tục được nâng cấp phần mềm, bổ sung các thuật toán điều phối tiên tiến hoặc tích hợp trí tuệ nhân tạo trong tương lai mà không cần thay thế phần cứng cốt lõi.

Giá trị mang lại không chỉ là tiết kiệm điện năng hay giảm thời gian chờ đợi, mà còn là tạo nền tảng cho quá trình chuyển đổi số của hệ thống giao thông đứng trong các đô thị Việt Nam.

Hình ảnh cư dân chờ đợi thang máy trong giờ cao điểm tại khu chung cư HH Linh Đàm

Hình ảnh cư dân chờ đợi thang máy trong giờ cao điểm tại khu chung cư HH Linh Đàm

Từ hạ tầng sẵn có đến vận hành thông minh

Không giống như các tòa nhà văn phòng, môi trường nhà ở có đặc điểm lưu thông tương đối ổn định và dễ dự báo hơn. Điều này cho phép áp dụng các chiến lược tối ưu hóa phù hợp, trong đó phần lớn hành trình được tự động điều phối, đồng thời vẫn bảo đảm tính linh hoạt đối với những nhu cầu đặc thù. Mục tiêu không phải là đạt tới sự tối ưu tuyệt đối trong mọi tình huống, mà là tạo ra hiệu quả vận hành cao trong điều kiện thực tế với chi phí đầu tư bổ sung thấp và khả năng triển khai trên quy mô lớn.

Thực tế cho thấy, lĩnh vực nhà ở xã hội tại Việt Nam không hoàn toàn thiếu nền tảng kỹ thuật để triển khai các giải pháp điều phối thang máy thông minh. Nhiều công trình đã được trang bị hệ thống kiểm soát truy cập bằng thẻ RFID – nguồn dữ liệu quan trọng có thể hỗ trợ nhận diện và điều phối hành trình theo điểm đến. Khoảng trống hiện nay chủ yếu nằm ở khả năng tích hợp và khai thác dữ liệu thông qua các giải pháp phần mềm phù hợp.

Đây là thời điểm cần được quan tâm nghiên cứu và đánh giá một cách nghiêm túc. Bởi những quyết định được đưa ra hôm nay sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả vận hành của các công trình trong nhiều thập kỷ tới. Khi hạ tầng cơ bản đã sẵn có, việc tận dụng và phát huy giá trị của những nền tảng đó có thể trở thành chìa khóa để nâng cao chất lượng dịch vụ, tối ưu chi phí vận hành và hướng tới một hệ sinh thái nhà ở xã hội thông minh, bền vững hơn trong tương lai.

Chìa khóa đã ở trong ổ khóa. Chỉ cần xoay nó.

Nguồn tham khảo và cơ sở số liệu đề xuất

1. Quyết định 338/QĐ-TTg ngày 03/04/2023 của Thủ tướng Chính phủ về Đề án “Đầu tư xây dựng ít nhất 01 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021–2030”.

2. Investigation of Optimization Techniques on the Elevator Dispatching Problem”, arXiv, 2022, truy cập tại: https://arxiv.org/abs/2202.13092. Tài liệu kỹ thuật và nghiên cứu về Destination Dispatch Systems, trong đó DDS được mô tả là hệ thống cho phép hành khách khai báo tầng đến trước khi vào cabin, từ đó thuật toán nhóm hành khách có điểm đến tương đồng, giảm số lần dừng trung gian và cải thiện năng lực phục vụ của nhóm thang.

3. Shaher Ahmed, Mohamed Shekha, Suhaila Skran, Abdelrahman Bassyouny, “Investigation of Optimization Techniques on the Elevator Dispatching Problem”, 2022. Nguồn này được dùng để củng cố nền tảng kỹ thuật của bài toán tối ưu điều phối thang máy, đặc biệt là tối ưu thời gian chờ và thời gian hành trình.

4. Directive (EU) 2022/2380 of the European Parliament and of the Council, ngày 23/11/2022, về tiêu chuẩn sạc chung cho thiết bị vô tuyến. Nguồn này được dùng như ví dụ chính sách về việc yêu cầu chuẩn giao tiếp chung ở quy mô thị trường lớn.

5. Số liệu tiết kiệm điện trong bài là kịch bản tính toán minh họa của nhóm tác giả, dựa trên giả định một tòa nhà nhà ở xã hội 20 tầng, 3 thang máy, mức tiêu thụ khoảng 60.000 kWh/năm cho cụm thang máy, và mức giảm 20–27% nhờ điều phối thông minh. Khi công bố chính thức, nên ghi rõ đây là “ước tính theo kịch bản mô phỏng”, không phải số liệu thống kê toàn thị trường.

6. Giá điện sử dụng trong phép tính nên được cập nhật theo giá bán lẻ điện bình quân do EVN/Bộ Công Thương công bố tại thời điểm xuất bản. Nếu chưa cập nhật được nguồn chính thức tại ngày đăng, nên viết là “tạm tính theo mức khoảng 2.000–2.200 VND/kWh” thay vì cố định một con số duy nhất.

Xem thêm
Tư vấn
Thành viên