Nhóm tác giả:
- Nguyễn Hải Đức - Chủ tịch Hiệp hội Thang máy Việt Nam
- GS-TS Ngô Gia Bảo
TÓM TẮT
Bài viết phân tích sự chuyển dịch trong tư duy xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật trên thế giới từ mô hình quy định chi tiết, chặt chẽ kiểm soát quản lý đầu vào bằng cách làm sang mô hình định hướng kết quả và quản lý theo hiệu năng. Trong ngành thang máy, sự chuyển dịch này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì thang máy không còn là một thiết bị cơ điện đơn lẻ mà đã trở thành một cấu phần của hạ tầng giao thông đứng thông minh, gắn với an toàn công cộng, đô thị thông minh, tiết kiệm năng lượng, dữ liệu vận hành và trải nghiệm người sử dụng.
Trên cơ sở đối chiếu kinh nghiệm Bắc Mỹ, Châu Âu, Trung Quốc và thực trạng Việt Nam, bài viết đề xuất một lộ trình chuyển đổi tiêu chuẩn hóa ngành thang máy giai đoạn 2026–2035: duy trì các tiêu chuẩn hiện hành như “giải pháp được chấp nhận”, mở thêm con đường tuân thủ dựa trên hiệu năng, xây dựng tiêu chuẩn riêng cho thang máy hiện hữu, hình thành cơ sở dữ liệu quản lý rủi ro và sự cố, đồng thời phát huy vai trò của Hiệp hội Thang máy Việt Nam (VNEA) trong tham vấn chính sách, đào tạo, hợp tác quốc tế và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ: TIÊU CHUẨN KHÔNG CHỈ ĐỂ KIỂM SOÁT, MÀ CÒN ĐỂ KIẾN TẠO PHÁT TRIỂN
Trong nhiều năm, khi nói tới tiêu chuẩn kỹ thuật, cách hiểu phổ biến là hệ thống văn bản quy định doanh nghiệp phải làm đúng những yêu cầu cụ thể về thiết kế, vật liệu, cấu tạo, lắp đặt, vận hành, kiểm định và bảo trì. Cách tiếp cận này có giá trị lịch sử rõ ràng: nó giúp tạo mặt bằng an toàn tối thiểu, giảm rủi ro kỹ thuật trong giai đoạn trình độ công nghiệp còn chưa đồng đều, đồng thời tạo cơ sở pháp lý thuận tiện cho cơ quan quản lý và đơn vị kiểm định.
Tuy nhiên, khi công nghệ thay đổi nhanh hơn chu kỳ sửa đổi tiêu chuẩn, mô hình quy định quá chi tiết có thể trở thành rào cản cho đổi mới sáng tạo. Một giải pháp công nghệ mới, an toàn hơn, tiết kiệm năng lượng hơn, có thể bị chậm áp dụng chỉ vì chưa được mô tả đầy đủ trong tiêu chuẩn hiện hành nhưng chưa phù hợp.

Tốc độ thay đổi công nghệ đang tăng tốc do số hóa và các công nghệ tiên tiến. Chu kỳ đổi mới công nghệ nhanh hơn thì tiêu chuẩn cũng cần phải xây dựng để phù hợp với tốc độ phát triển này.
Ngành thang máy Việt Nam đang bước vào đúng giai đoạn phải đối diện với thách thức này. Thị trường đã phát triển nhanh, thang máy đã đi vào chung cư, bệnh viện, trường học, trung tâm thương mại, khách sạn, nhà phố, biệt thự và công trình cải tạo. Khái niệm giao thông đứng không còn bó hẹp trong thiết bị nâng hạ mà trở thành một phần của hạ tầng đô thị hiện đại. Trong khi đó, các công nghệ mới như AI, IoT, giám sát từ xa, bảo trì dự báo, dữ liệu lớn, Digital Twin, an ninh mạng công nghiệp và tích hợp với hệ thống quản lý tòa nhà đang làm thay đổi toàn bộ vòng đời của một hệ thống thang máy. Nếu tiêu chuẩn vẫn chỉ tập trung vào kiểm tra cấu hình thiết bị tại thời điểm lắp đặt, thì sẽ khó đánh giá đầy đủ mức độ an toàn và hiệu năng trong suốt quá trình vận hành.
Đại hội XIV của Đảng đã nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mô hình phát triển, đẩy mạnh khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế phát triển nhanh, bền vững. Tinh thần đó không chỉ áp dụng cho các ngành công nghệ cao theo nghĩa hẹp mà cần được cụ thể hóa trong cả những lĩnh vực kỹ thuật thiết yếu của đời sống đô thị. Với ngành thang máy, cụ thể hóa tinh thần ấy chính là đổi mới tư duy tiêu chuẩn hóa: chuyển dần từ “quản lý kiểm soát quá trình” sang “quản lý bằng mục tiêu an toàn, hiệu năng và kết quả phục vụ xã hội”.
2. BẢN CHẤT CỦA TƯ DUY MỚI: TỪ PRESCRIPTIVE STANDARDS ĐẾN OUTCOME-BASED STANDARDS
Trong lịch sử tiêu chuẩn hóa, mô hình phổ biến nhất là Prescriptive Standards – tiêu chuẩn quy định chi tiết. Tiêu chuẩn loại này xác định thiết bị phải được chế tạo như thế nào, dùng vật liệu gì, bố trí ra sao, thử nghiệm bằng phương pháp nào, hồ sơ nào cần có. Với các ngành có rủi ro trực tiếp tới tính mạng con người như thang máy, nồi hơi, thiết bị áp lực, điện lực, hàng không hay đường sắt, cách tiếp cận này từng rất cần thiết. Nó tạo sự rõ ràng, dễ kiểm tra và phù hợp với năng lực quản lý trong giai đoạn công nghệ còn tương đối ổn định.
Tuy nhiên, thế giới hiện nay đang phát triển mạnh mô hình Performance-Based Standards - Tiêu chuẩn dựa trên hiệu suất, và Outcome-Based Standards - Tiêu chuẩn dựa trên kết quả. Theo cách tiếp cận này, tiêu chuẩn không nhất thiết mô tả duy nhất một cách làm, mà xác định kết quả cuối cùng phải đạt được: mức an toàn tối thiểu, xác suất rủi ro chấp nhận được, độ tin cậy vận hành, khả năng cứu hộ, mức tiêu thụ năng lượng, khả năng tiếp cận cho người khuyết tật, chất lượng dịch vụ và yêu cầu bảo vệ dữ liệu. Nhà sản xuất, nhà thầu, đơn vị bảo trì và chủ sở hữu công trình có thể lựa chọn nhiều giải pháp khác nhau, miễn là chứng minh được mức độ đáp ứng bằng tính toán, thử nghiệm, chứng nhận, dữ liệu vận hành hoặc đánh giá rủi ro được chấp nhận.

Điểm khác biệt căn bản nằm ở sự chuyển dịch từ quản lý dựa trên sự tuân thủ sang quản lý dựa trên kết quả. Nếu trước đây trọng tâm là câu hỏi “thiết bị có đáp ứng đầy đủ các yêu cầu quy định hay không”, thì nay trọng tâm chuyển sang “thiết bị có đạt được mức độ an toàn, hiệu năng và độ tin cậy mong muốn trong thực tiễn vận hành hay không”.
Sự chuyển dịch này không làm suy giảm vai trò của tiêu chuẩn, mà tái định vị tiêu chuẩn như một công cụ phục vụ đổi mới. Tiêu chuẩn vẫn phải nghiêm ngặt để bảo đảm an toàn xã hội, nhưng đồng thời cần đủ linh hoạt để không vô tình giới hạn những giải pháp công nghệ tiên tiến. Đó chính là tinh thần của một nền quản lý hiện đại: bảo vệ các giá trị cốt lõi, đồng thời khuyến khích sáng tạo và phát triển.
3. ĐỐI CHIẾU VỚI ĐƯỜNG LỐI ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN THỨ XIV: TIÊU CHUẨN HÓA LÀ MỘT PHẦN CỦA ĐỔI MỚI THỂ CHẾ
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV đề ra chủ trương, quan điểm lớn về hoàn thiện thể chế, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, quản trị hiện đại và phát triển lực lượng sản xuất mới là nền tảng để suy nghĩ lại về tiêu chuẩn hóa. Nếu thể chế phải tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và kiến tạo phát triển, thì tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật cũng không nên chỉ là “hàng rào kiểm soát”, mà cần trở thành “hạ tầng mềm” giúp công nghệ mới được kiểm chứng, được áp dụng và được quản lý an toàn.

Từ bảng đối chiếu trên có thể thấy, tư duy “chuyển từ kiểm soát quá trình sang định hướng kết quả” hoàn toàn phù hợp với tinh thần đổi mới thể chế của Nghị quyết Đại hội Đảng XIV. Đây không phải là khẩu hiệu kỹ thuật tách rời đường lối phát triển, mà là cách cụ thể hóa yêu cầu kiến tạo môi trường cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong một ngành có liên quan trực tiếp đến an toàn đô thị và đời sống người dân.
4. NĂM THẾ HỆ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG TIÊU CHUẨN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VỊ TRÍ TƯƠNG ĐỐI CỦA VIỆT NAM
Có thể hình dung sự phát triển của hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật theo năm thế hệ. Việc phân chia này chỉ có tính khái quát, nhưng giúp nhận diện rõ khoảng cách giữa Việt Nam với các khu vực đi trước, đồng thời tránh cách nhìn giản đơn rằng cứ có tiêu chuẩn là đã theo kịp thị trường. Một quốc gia có thể có nhiều tiêu chuẩn nhưng vẫn ở thế hệ quản lý cũ nếu tiêu chuẩn chủ yếu quy định chi tiết cách làm, ít chú trọng dữ liệu vận hành, quản lý rủi ro và hiệu năng vòng đời.

* Ghi chú: Bảng này chỉ có tính nhận diện xu hướng, không phải xếp hạng chính thức.
Kết luận từ bảng trên là: Việt Nam không nên nóng vội “nhảy cóc” bằng cách phủ nhận toàn bộ hệ thống tiêu chuẩn hiện hành. Phần lớn TCVN hiện nay vẫn cần thiết vì tạo nền tảng an toàn tối thiểu cho thị trường còn không đồng đều. Vấn đề là phải mở thêm tầng tiêu chuẩn thế hệ mới: tiêu chuẩn về quản lý rủi ro, hiện đại hóa thang cũ, dữ liệu vận hành, an ninh mạng, bảo trì dự báo, tích hợp tòa nhà thông minh và chấp nhận giải pháp tương đương.
5. KINH NGHIỆM CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN: CHUYỂN ĐỔI MỀM, KHÔNG “ĐẬP BỎ LÀM LẠI”
Một câu hỏi thực tiễn rất quan trọng là: nếu áp dụng tư duy mới, có phải xử lý toàn bộ tiêu chuẩn và sản phẩm cũ hay không? Câu trả lời từ kinh nghiệm các nước phát triển là không. Đối với thang máy, việc “xóa bỏ hàng loạt” là không khả thi, không kinh tế và thậm chí có thể tạo rủi ro xã hội. Cách tiếp cận đúng là chuyển đổi mềm, phân loại rủi ro, nâng cấp theo lộ trình và không hồi tố một cách máy móc.
Bắc Mỹ có hệ thống ASME A17.1/CSA B44 cho an toàn thang máy, đồng thời có ASME A17.3 dành cho thang máy và thang cuốn hiện hữu. Điều này cho thấy họ không bắt mọi thang máy cũ phải ngay lập tức đạt đầy đủ tiêu chuẩn của thang máy mới. Thay vào đó, hệ thống pháp lý tạo một bộ yêu cầu an toàn tối thiểu, có thể được các bang và địa phương áp dụng để nâng dần mức độ an toàn của thiết bị hiện hữu. Đây là phương pháp thực dụng: thừa nhận thực tế lịch sử của công trình cũ, nhưng không bỏ mặc các rủi ro đã được nhận diện.
Châu Âu có EN 81-80 về cải thiện an toàn cho thang máy hiện hữu. Cách tiếp cận của tiêu chuẩn này là nhận diện các nguy cơ, đánh giá khoảng cách giữa thang máy cũ và mức an toàn hiện đại, sau đó đề xuất các biện pháp nâng cấp theo thứ tự ưu tiên. Điều cốt lõi là tư duy quản lý rủi ro: không phải mọi hạng mục đều cần thay ngay, nhưng các nguy cơ cao liên quan tới cửa tầng, cứu hộ, chống vượt tốc, vùng làm việc của kỹ thuật viên, thông tin liên lạc khẩn cấp, độ chính xác dừng tầng và bảo vệ người sử dụng phải được đánh giá nghiêm túc.
Canada và nhiều nước theo hệ luật xây dựng hiện đại còn sử dụng cách tiếp cận “acceptable solution” và “alternative solution”. Nghĩa là tiêu chuẩn truyền thống vẫn là một con đường tuân thủ được chấp nhận, nhưng chủ đầu tư hoặc nhà sản xuất có thể đề xuất giải pháp khác nếu chứng minh được mức an toàn tương đương hoặc cao hơn. Đây là cơ chế rất quan trọng để công nghệ mới không bị chặn lại bởi các quy định được viết cho công nghệ cũ.
Trung Quốc hiện không chỉ sao chép EN 81 như giai đoạn trước mà đang hình thành thế hệ tiêu chuẩn mới cho thang máy gia đình, thang máy lắp bổ sung trong công trình hiện hữu, bảo trì, sơ tán khẩn cấp, an toàn chức năng và tham số an toàn cơ bản. Điều này cho thấy ngay cả quốc gia có thị trường thang máy lớn nhất thế giới cũng đang dịch chuyển từ tư duy kiểm soát thiết bị sang tư duy quản lý rủi ro, quản lý vòng đời và định hướng kết quả.
6. VẬN DỤNG CHO VIỆT NAM: HAI LÀN TUÂN THỦ VÀ BA NHÓM ĐỐI TƯỢNG
Với điều kiện Việt Nam, đề xuất phù hợp nhất là:
(1) tiếp tục áp dụng các TCVN hiện hành như giải pháp được chấp nhận, đặc biệt đối với các doanh nghiệp nhỏ, công trình phổ thông và các trường hợp chưa đủ năng lực chứng minh bằng phương pháp đánh giá hiệu năng.
(2) Đồng thời cho phép khuyến khích giải pháp kỹ thuật mới, vật liệu mới, hệ thống điều khiển mới, mô hình bảo trì số hoặc mô hình thang máy đặc biệt được chấp nhận nếu chứng minh được mức an toàn, độ tin cậy và hiệu năng tương đương hoặc cao hơn thông qua hồ sơ kỹ thuật, thử nghiệm, đánh giá rủi ro, chứng nhận độc lập hoặc dữ liệu vận hành.
Đối với sản phẩm và công trình cũ, không nên áp dụng hồi tố máy móc. Cần chia thành ba nhóm: nhóm thang mới lắp đặt phải áp dụng tiêu chuẩn mới theo lộ trình; nhóm thang đang vận hành an toàn tiếp tục được sử dụng nhưng phải tăng cường hồ sơ, kiểm định, bảo trì và dữ liệu vận hành; nhóm thang cũ có rủi ro cao phải đánh giá bắt buộc và nâng cấp theo thời hạn cụ thể. Nhóm rủi ro cao nên bao gồm thang tại bệnh viện, trường học, chung cư đông dân, công trình công cộng, thang quá niên hạn khuyến nghị, thang thiếu cứu hộ tự động, thang có lịch sử sự cố, thang không có hồ sơ kỹ thuật đầy đủ hoặc thang được lắp trong nhà cải tạo có điều kiện giếng thang bất lợi.
Việt Nam cần xây dựng một tiêu chuẩn và quy chuẩn riêng về cải thiện an toàn thang máy hiện hữu, có thể tham khảo tinh thần ASME A17.3 và EN 81-80 nhưng phải phù hợp điều kiện trong nước. Văn bản này không nên chỉ là danh mục hạng mục phải thay, mà cần có phương pháp đánh giá rủi ro, thang điểm ưu tiên, hướng dẫn lựa chọn giải pháp kỹ thuật, thời hạn nâng cấp và cơ chế hỗ trợ chủ sở hữu công trình. Với chung cư cũ hoặc công trình công cộng, cần tính tới khả năng tài chính của cộng đồng cư dân để có lộ trình hợp lý, tránh biến tiêu chuẩn thành gánh nặng không thể thực hiện.
7. NHỮNG NỘI DUNG MỚI CẦN BỔ SUNG VÀO HỆ THỐNG TIÊU CHUẨN THANG MÁY VIỆT NAM
Từ góc độ công nghệ, hệ thống tiêu chuẩn thang máy Việt Nam giai đoạn tới cần bổ sung các nhóm nội dung mới, nhưng không nên biến mọi thứ thành quy định cứng ngay lập tức. Cách hợp lý là xây dựng theo hướng: yêu cầu bắt buộc tối thiểu trong quy chuẩn; tiêu chuẩn khuyến nghị hoặc tiêu chuẩn tự nguyện cho công nghệ mới; hướng dẫn kỹ thuật cho doanh nghiệp; và cơ chế thí điểm có kiểm soát đối với giải pháp đổi mới.

• Nhóm tiêu chuẩn về dữ liệu vận hành: nhật ký số, định dạng dữ liệu cơ bản, lưu trữ sự cố, thời gian dừng máy, tần suất lỗi và truy xuất hồ sơ bảo trì.
• Nhóm tiêu chuẩn về bảo trì dự báo: yêu cầu tối thiểu đối với cảm biến, dữ liệu đầu vào, thuật toán cảnh báo, trách nhiệm xử lý cảnh báo và bảo mật dữ liệu.
• Nhóm tiêu chuẩn về an toàn chức năng: đánh giá rủi ro của hệ điều khiển, phần mềm an toàn, thiết bị điện tử lập trình được và mức độ tin cậy của chức năng bảo vệ.
• Nhóm tiêu chuẩn về an ninh mạng: bảo vệ hệ thống điều khiển kết nối internet, phân quyền truy cập từ xa, sao lưu dữ liệu, chống can thiệp trái phép và quản lý cập nhật phần mềm.
• Nhóm tiêu chuẩn về thang máy gia đình và nhà cải tạo: điều kiện giếng thang, tải trọng, cứu hộ, thông gió, phòng cháy, kết cấu công trình và trách nhiệm bảo trì.
• Nhóm tiêu chuẩn về hiện đại hóa thang máy cũ: phân loại nguy cơ, gói nâng cấp tối thiểu, quy trình đánh giá sau nâng cấp và trách nhiệm của chủ sở hữu.
• Nhóm tiêu chuẩn về tiết kiệm năng lượng và giao thông đứng thông minh: tái tạo năng lượng, điều phối nhóm thang, tích hợp BMS, ưu tiên cứu hỏa và tối ưu vận hành theo lưu lượng người dùng.
Những nhóm tiêu chuẩn này không chỉ phục vụ an toàn trước mắt mà còn tạo nền tảng cho ngành công nghiệp thang máy Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị quốc tế. Khi doanh nghiệp phải quản lý dữ liệu, chứng minh hiệu năng, bảo vệ an ninh mạng và đáp ứng yêu cầu vòng đời, năng lực kỹ thuật của toàn ngành sẽ được nâng lên. Đây chính là cách tiêu chuẩn hóa trở thành động lực phát triển, chứ không chỉ là công cụ kiểm tra.
8. VAI TRÒ CỦA HIỆP HỘI THANG MÁY VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2026–2035
Hiệp hội Thang máy Việt Nam (VNEA) có thể đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi này. Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành quy chuẩn và tiêu chuẩn, nhưng hiệp hội nghề nghiệp là nơi tập hợp tiếng nói của doanh nghiệp, chuyên gia, cơ sở đào tạo, đơn vị kiểm định và người sử dụng. Nếu được tổ chức tốt, VNEA có thể trở thành cầu nối kỹ thuật giữa thực tiễn thị trường và quá trình xây dựng chính sách.
Trước mắt, cơ quan quan lý nhà nước tạo điều kiện giao VNEA chủ trì hoặc phối hợp thực hiện một chương trình rà soát tổng thể hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành về thang máy. Mục tiêu không phải là phê phán cái cũ, mà là lập bản đồ khoảng cách: nội dung nào đã tương thích với EN 81, ISO 8100, ASME A17, GB/T; nội dung nào còn thiếu; nội dung nào cần chuyển từ quy định chi tiết sang yêu cầu hiệu năng; nội dung nào cần giữ nguyên vì phù hợp điều kiện Việt Nam. Kết quả rà soát nên được trình bày thành báo cáo khuyến nghị chính sách gửi cơ quan quản lý, đồng thời công bố tóm tắt cho cộng đồng doanh nghiệp.
Hiệp hội cũng nên thúc đẩy hình thành cơ sở dữ liệu sự cố và rủi ro thang máy cấp ngành. Hiện nay, nếu thiếu dữ liệu sự cố, mọi tranh luận về tiêu chuẩn rất dễ dựa trên cảm tính. Một cơ sở dữ liệu ẩn danh, bảo đảm quyền lợi doanh nghiệp nhưng cho phép thống kê loại lỗi, tuổi thọ thiết bị, tần suất sự cố, loại công trình, nguyên nhân bảo trì, sẽ là nền tảng cho quản lý rủi ro. Trên cơ sở đó, Việt Nam có thể xác định đúng nhóm nguy cơ cao thay vì ban hành yêu cầu đồng loạt.
Một nhiệm vụ khác là giao VNEA đào tạo lại lực lượng kỹ thuật viên và cán bộ quản lý theo chuẩn mới. Khi thang máy trở thành hệ thống số hóa, kỹ thuật viên không thể chỉ hiểu cơ khí và điện truyền thống. Họ phải có năng lực đọc dữ liệu, xử lý cảnh báo phần mềm, hiểu an ninh mạng cơ bản, quản lý hồ sơ điện tử và phối hợp với hệ thống quản lý tòa nhà. VNEA, thông qua các viện, trung tâm đào tạo hoặc chương trình hợp tác quốc tế, có thể xây dựng chứng chỉ nghề nghiệp mới cho giai đoạn giao thông đứng thông minh.
9. LỘ TRÌNH ĐỀ XUẤT
Lộ trình chuyển đổi nên chia làm bốn giai đoạn:
+ Giai đoạn 2026–2027 là giai đoạn nghiên cứu và chuẩn bị: rà soát TCVN; so sánh với ASME, EN, ISO, IEC; khảo sát thị trường thang máy hiện hữu; xây dựng bộ tiêu chí rủi ro; lựa chọn một số địa phương hoặc nhóm công trình để thí điểm dữ liệu vận hành.
+ Giai đoạn 2028–2030 là giai đoạn ban hành các tiêu chuẩn nền tảng: tiêu chuẩn về thang máy hiện hữu, dữ liệu vận hành, bảo trì số, an toàn chức năng và thang máy gia đình; đồng thời đưa mô hình hai đường tuân thủ vào hướng dẫn kỹ thuật.
+ Giai đoạn 2031–2035 là giai đoạn áp dụng mở rộng: yêu cầu hồ sơ số đối với thang mới; phân loại rủi ro thang hiện hữu; bắt buộc nâng cấp các hạng mục rủi ro cao; hình thành cơ sở dữ liệu sự cố quốc gia hoặc cấp ngành.
+ Sau năm 2035, khi thị trường và năng lực kỹ thuật đã trưởng thành hơn, Việt Nam có thể tiến tới tiêu chuẩn thế hệ 5: quản lý bằng dữ liệu thời gian thực, đánh giá hiệu năng vòng đời, tích hợp Digital Twin và giám sát thông minh trong đô thị số.
Điểm cần nhấn mạnh là lộ trình này không nhằm tạo thêm thủ tục cho doanh nghiệp, mà nhằm giảm rủi ro xã hội, nâng cao chất lượng dịch vụ và mở đường cho đổi mới sáng tạo. Nếu làm đúng, doanh nghiệp có năng lực công nghệ cao sẽ được khuyến khích phát triển, doanh nghiệp vừa và nhỏ có lộ trình nâng cấp, người sử dụng được bảo vệ tốt hơn, còn cơ quan quản lý có công cụ đánh giá dựa trên dữ liệu thay vì chỉ dựa trên hồ sơ giấy.
10. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Tư duy mới trong xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn – chuyển từ kiểm soát quá trình sang định hướng kết quả – không có nghĩa là buông lỏng quản lý. Ngược lại, đó là một trình độ quản lý cao hơn, đòi hỏi tiêu chuẩn rõ hơn về mục tiêu an toàn, chặt chẽ hơn về đánh giá rủi ro, minh bạch hơn về dữ liệu và linh hoạt hơn trong chấp nhận giải pháp công nghệ. Đối với ngành thang máy, tư duy này đặc biệt cần thiết vì thang máy liên quan trực tiếp đến tính mạng con người, đồng thời đang chuyển nhanh sang mô hình thiết bị thông minh trong hạ tầng đô thị số.
Việt Nam không nên xử lý tiêu chuẩn và sản phẩm cũ theo cách cực đoan. Không thể yêu cầu thay thế hàng loạt thang máy đang vận hành hợp pháp chỉ vì tiêu chuẩn mới ra đời. Nhưng cũng không thể để các thang máy cũ có rủi ro cao tiếp tục vận hành mà không đánh giá và nâng cấp. Giải pháp hợp lý là chuyển đổi mềm: tiêu chuẩn cũ được duy trì như giải pháp được chấp nhận; tiêu chuẩn mới mở thêm con đường dựa trên hiệu năng; thang máy hiện hữu được phân loại rủi ro; nhóm nguy cơ cao được nâng cấp theo lộ trình; công nghệ mới được thí điểm có kiểm soát và chứng minh bằng dữ liệu.
Trong tinh thần đưa Nghị quyết Đại hội Đảng XIV về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế phát triển vào đời sống, ngành thang máy Việt Nam cần coi việc đưa tư duy mới vào xây dựng và vận dụng tiêu chuẩn là một nhiệm vụ chiến lược. Đây không chỉ là câu chuyện kỹ thuật của doanh nghiệp lắp đặt, bảo trì, mà là câu chuyện về an toàn đô thị, chất lượng sống, năng lực công nghiệp và khả năng hội nhập quốc tế.
Cơ quan quản lý nhà nước tiếp tục đẩy mạnh giao Hiệp hội Thang máy Việt Nam chủ động phối hợp trong tham vấn, nghiên cứu, kết nối quốc tế, đào tạo và đề xuất chính sách để Việt Nam không chỉ “theo kịp” tiêu chuẩn thế giới mà còn từng bước hình thành năng lực tiêu chuẩn hóa phù hợp với thực tiễn phát triển của chính mình.
TÀI LIỆU VÀ NGUỒN THAM KHẢO CHÍNH
• 1. Nghị quyết
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Cộng sản Việt Nam - Cổng Thông
tin điện tử Chính phủ.
• 2. ASME A17.1/CSA B44 – Safety Code for Elevators and Escalators.
• 3. ASME A17.3-2023 – Safety Code for Existing Elevators and Escalators.
• 4. EN 81-20/50 – Safety rules for the construction and installation of lifts.
• 5. EN 81-80:2019 – Rules for the improvement of safety of existing passenger and goods passenger lifts.
• 6. ISO 8100 series – Lifts for the transport of persons and goods.
• 7. IEC 61508 – Functional safety of electrical/electronic/programmable electronic safety-related systems.
* 8. 中国电梯标准体系 - Hệ thống tiêu chuẩn thang máy Trung Quốc (GB/T),
• 9. Hệ thống TCVN 6396 liên quan tới thang máy tại Việt Nam.
• 10. Tư liệu nền từ bài mẫu “Tiêu chuẩn thang máy Việt Nam trước xu thế phát triển mới” của Tạp chí Thang máy/VNEA. tháng 5/2026.
























