Tác giả:
Nhà báo An Thanh (Báo Hànộimới)
Bước chuyển mình lịch sử
Trưởng ban Đô thị HĐND TP Hà Nội Trần Hợp Dũng chia sẻ, ngày nay, bước chân vào bất kỳ con ngõ nhỏ nào tại Hà Nội hay TP.HCM, không khó để bắt gặp những căn nhà phố, nhà ống với diện tích chỉ 30-40 mét vuông nhưng được xây cao từ 5 đến 7 tầng, bên trong được trang bị hệ thống thang máy gia đình (homelift) hiện đại. Thang máy đã len lỏi vào từng tế bào của đô thị nén.
Việt Nam hiện đang có khoảng 480.000 chiếc thang máy đang được đưa vào khai thác, vận hành. Nhu cầu lắp đặt mới không ngừng tăng cao, duy trì ở mức từ 40.000 đến 50.000 chiếc mỗi năm. Nếu tốc độ đô thị hóa duy trì như hiện nay, đến năm 2045, số lượng thang máy trên toàn quốc có thể đạt hơn 1 triệu chiếc.
Con số này cho thấy thang máy không còn là phần phụ của công trình, mà đang trở thành một dạng hạ tầng thiết yếu, cần được nhìn nhận trong tổng thể quy hoạch đô thị, giống như hạ tầng điện, nước, giao thông hay hệ thống phòng cháy, chữa cháy.

Sa bàn một khu đô thị trên đại lộ Thăng Long được trưng bày tại triển lãm Quy hoạch tổng thể thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm. Ảnh: Hữu Thắng
Sự phát triển của ngành thang máy không chỉ đến từ nhu cầu tiện nghi, mà còn bắt nguồn từ áp lực dân số, chính sách phát triển nhà ở và quá trình tái cấu trúc không gian sống tại các đô thị lớn. Khi quỹ đất ngày càng hạn hẹp, đô thị buộc phải vươn cao. Và khi đô thị vươn cao, thang máy trở thành điều kiện vận hành căn bản.
Hà Nội đang giải phóng mặt bằng cho 1.428 dự án, đồng loạt mở đường cho các tuyến vành đai, cầu vượt sông Hồng, khu đô thị và các cực tăng trưởng mới theo quy hoạch phát triển Thủ đô... Tương tự, công tác giải phóng mặt bằng tại TP.HCM đang được dồn lực thực hiện cho các dự án hạ tầng trọng điểm như đường sắt tốc độ cao, Quốc lộ 13,...
Nhu cầu nhà ở tái định cư cũng đang tạo thêm áp lực lớn lên hệ thống hạ tầng. Đến năm 2030, Hà Nội đặt mục tiêu phát triển 2,5 triệu mét vuông sàn nhà ở xã hội; 1,3 triệu mét vuông sàn nhà ở tái định cư; 15,19 triệu mét vuông sàn nhà ở thương mại.

Sa bàn Quy hoạch tổng thể Hà Nội tầm nhìn 100 năm.


Theo Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, hai bên sông Hồng sẽ phát triển các khu đô thị hiện đại.
Khi hàng triệu người dân chuyển từ nhà mặt đất lên chung cư, nhu cầu sử dụng thang máy không tăng theo cách tuyến tính. Một khu đô thị có hàng chục tòa tháp có thể cần hàng trăm, thậm chí hàng nghìn thang máy vận hành liên tục. Một tòa nhà cao 40 tầng đòi hỏi hệ thống cơ điện, máy kéo, cáp tải, tủ điều khiển, cửa tầng, cửa cabin và thiết bị an toàn hoạt động ổn định suốt 24 giờ mỗi ngày.
Ở quy mô đó, thang máy không còn là chuyện riêng của từng chủ đầu tư hay từng ban quản trị. Nó là một thành phần của năng lực vận hành đô thị.
Bài toán năng lượng của đô thị nén
Sự phát triển của nhà cao tầng mang lại tiện nghi, nhưng đồng thời đặt ra áp lực lớn về tiêu thụ năng lượng.
Thang máy không phải là thiết bị tiêu thụ điện lớn nhất trong một tòa nhà, nhưng khi số lượng tăng nhanh, tổng nhu cầu điện năng của hệ thống giao thông trục đứng trở thành vấn đề đáng kể trong quy hoạch đô thị. Các nghiên cứu quốc tế cho thấy mức tiêu thụ điện của thang máy biến động rất lớn theo loại công trình, số tầng, công nghệ truyền động, tần suất sử dụng và mức tiêu thụ ở chế độ chờ.
Theo Hội đồng Mỹ về nền kinh tế tiết kiệm năng lượng (ACEEE), một thang máy thấp tầng, tải nhẹ có thể tiêu thụ khoảng 1.900 kWh/năm, tương đương 5,2 kWh/ngày; trong khi thang máy thương mại cao tầng, sử dụng dày đặc có thể lên tới khoảng 15.000 kWh/năm, tương đương hơn 41 kWh/ngày.
Từ các mốc tham chiếu này, có thể lấy mức 10 kWh/ngày/thang máy làm kịch bản trung bình thận trọng để hình dung quy mô tiêu thụ điện.
Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), năm 2025, sản lượng điện thương phẩm toàn hệ thống ước đạt khoảng 287,9 tỷ kWh.
Với khoảng 480.000 thang máy đang vận hành, tổng điện năng tiêu thụ ước khoảng 1,75 tỷ kWh/năm, tương đương khoảng 0,61% sản lượng điện thương phẩm toàn hệ thống năm 2025 của EVN.
Khi số lượng thang máy tăng lên hơn 1 triệu thiết bị vào năm 2045, nhu cầu điện cho hệ thống giao thông trục đứng có thể vượt 3,65 tỷ kWh/năm, tương đương khoảng 1,27% sản lượng điện thương phẩm năm 2025.

Chuyển đổi số và phát triển xanh là hai trụ cột song hành của đô thị tương lai. Công nghệ số giúp tối ưu hóa vận hành, trong khi phát triển xanh đảm bảo tính bền vững. Sự kết hợp này mang lại môi trường sống chất lượng cao và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Con số này chưa đến mức gây áp lực lên hệ thống điện quốc gia, nhưng đủ lớn để các đô thị cao tầng phải tính toán nghiêm túc trong quy hoạch năng lượng, lựa chọn công nghệ, vận hành và bảo trì thang máy.
Vấn đề không chỉ là lắp đặt đủ thiết bị, mà còn là giảm tiêu thụ ở chế độ chờ, sử dụng chiếu sáng hiệu suất cao, tối ưu điều khiển và từng bước áp dụng các tiêu chuẩn đánh giá hiệu suất năng lượng theo thông lệ quốc tế.
Đọc thêm: Cuộc ‘cách mạng xanh’ trong ngành thang máy toàn cầu
Trong tương lai, tiêu chí tiết kiệm năng lượng không nên chỉ là lựa chọn tự nguyện của chủ đầu tư, mà cần trở thành một phần trong tiêu chuẩn thiết kế, lựa chọn, vận hành và cải tạo thang máy.
Chu kỳ đại tu đang đến gần và bài toán chi phí
Hiện phần lớn thang máy tại Việt Nam có tuổi đời dưới 15 năm. Đây là lợi thế trong ngắn hạn, bởi phần lớn thiết bị còn tương đối mới. Nhưng chỉ 10 - 15 năm nữa, một lượng lớn thang máy sẽ đồng loạt bước vào chu kỳ đại tu, sửa chữa lớn và thay thế linh kiện.
Khi đó, các hạng mục như cáp tải, máy kéo, tủ điều khiển, hệ thống phanh, cửa tầng, cửa cabin, bo mạch và thiết bị an toàn sẽ phát sinh nhu cầu thay thế với quy mô lớn. Nếu không chuẩn bị trước, thị trường có thể đối mặt với tình trạng thiếu kỹ thuật viên lành nghề, thiếu linh kiện đạt chuẩn và thiếu cơ chế tài chính dài hạn cho công tác bảo trì.
Vấn đề không chỉ nằm ở kỹ thuật, mà còn ở quản trị. Tại nhiều chung cư, tranh chấp liên quan đến quỹ bảo trì 2% giữa chủ đầu tư, ban quản trị và cư dân vẫn kéo dài.
Tại phường Hoàng Liệt, hiện có 83 chung cư sử dụng thang máy, liên tục phát sinh các vấn đề liên quan đến an toàn, cháy nổ.
"Cư dân và Ban quản trị sẽ còn nổ ra vô số cuộc tranh luận gay gắt bên lề quỹ bảo trì 2%. Nguy cơ thang máy bị già hóa, "chắp vá" linh kiện rẻ tiền có thể biến các khu đô thị hiện đại trở thành bản sao của những chung cư cũ nát, mất an toàn tại Trung Quốc.
Một xã hội đi lên đi xuống bằng thang máy cuối cùng sẽ phải đối mặt với một bài toán sống còn: Ai sẽ trả tiền để duy trì nó một cách an toàn nhất?” Trưởng phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị phường Hoàng Liệt (Hà Nội)- ông Vũ Đức Minh boăn khoăn.

Phản ánh trên báo chí tháng 4/2026 cho thấy Chung cư CT12B, phường Định Công (Hà Nội) sau 12 năm sử dụng nay bị bong tróc, ngấm dột, rơi từng mảng tường, thang máy hư hỏng... trong khi đó quỹ bảo trì của tòa nhà hiện đang ở mức 0 đồng.
Phó Chủ tịch UBND phường Hoàng Liệt Hà Nội- ông Tạ Việt Dũng cũng cho biết: Mô hình chuyển giao trách nhiệm giám sát, quản lý nhà nước về nhà chung cư xuống trực tiếp cho Ủy ban nhân dân cấp xã/phường đang được xem là một định hướng tất yếu để bám sát địa bàn.
Tuy nhiên, đối với các "siêu phường" với hàng chục vạn dân cư sống trong các tòa cao ốc, việc chính quyền cơ sở phải can thiệp, phân xử các tranh chấp liên quan đến hạng mục mang tính chuyên môn cao như thay thế linh kiện thang máy sẽ là một thách thức quá sức nếu không có một hành lang pháp lý và tiêu chuẩn kỹ thuật rõ ràng.
Như vậy, nếu không có cơ chế minh bạch và quỹ dự phòng dài hạn, nguy cơ thang máy xuống cấp, sửa chữa chắp vá, thay thế linh kiện kém chất lượng có thể biến các khu đô thị hiện đại hôm nay thành những không gian mất an toàn trong tương lai.






















