Từ 1/1/2027, hàng 'Made in Vietnam' phải có ít nhất 30% hàm lượng giá trị nội địa

  • 0
Thứ hai, 12/10/2026 | 11:32
TCTM - Chính phủ vừa ban hành Nghị định 384/2026/NĐ-CP quy định về xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa sản xuất và lưu thông trong nước, chính thức có hiệu lực từ 01/01/2027.
Nghị định 384/2026/NĐ-CP áp dụng cho hàng hóa sản xuất và lưu thông trong nước, không thay thế các quy tắc xuất xứ và C/O riêng áp dụng cho hàng xuất khẩu theo từng thị trường hoặc hiệp định thương mại.

Nghị định 384/2026/NĐ-CP áp dụng cho hàng hóa sản xuất và lưu thông trong nước, không thay thế các quy tắc xuất xứ và C/O riêng áp dụng cho hàng xuất khẩu theo từng thị trường hoặc hiệp định thương mại.

Nghị định này quy định xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa sản xuất và lưu thông trong nước, bao gồm: hàng hóa có xuất xứ, hàng hóa có xuất xứ thuần túy, hàng hóa có xuất xứ không thuần túy, công đoạn gia công, chế biến đơn giản; yếu tố không được xem xét khi xác định xuất xứ; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Theo Nghị định, hàng hóa có xuất xứ Việt Nam khi thuộc một trong các trường hợp: Hàng hóa có xuất xứ thuần túy Việt Nam và hàng hóa có xuất xứ không thuần túy Việt Nam.

Trong trường hợp cần thiết, các bộ, cơ quan ngang bộ xây dựng quy định riêng về hàng hóa có xuất xứ Việt Nam đối với mặt hàng có tính chất đặc thù thuộc phạm vi quản lý, bảo đảm phù hợp với quy định của Nghị định.

Đặc biệt, đối với hàng hóa không có xuất xứ thuần túy phải đáp ứng tiêu chí chuyển đổi mã số hàng hóa (HS) hoặc đạt tối thiểu 30% hàm lượng giá trị Việt Nam (VVC) để được xác định có xuất xứ Việt Nam. Cụ thể:

Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy Việt Nam

Đối với hàng hóa có xuất xứ không thuần túy Việt Nam, Nghị định đưa ra hai tiêu chí xác định, gồm chuyển đổi mã số hàng hóa hoặc có hàm lượng giá trị Việt Nam (VVC) tối thiểu 30%.

Hàm lượng VVC được xác định theo công thức trực tiếp hoặc công thức gián tiếp. Thương nhân được lựa chọn một trong hai công thức để áp dụng trong năm tài chính. Công thức cụ thế như sau:

tu 112027 hang made in vietnam phai co it nhat 30 ham luong gia tri viet nam

Nghị định cũng quy định trị giá của vật liệu đóng gói và bao bì chứa đựng hàng hóa là một phần cấu thành nên hàng hóa được tính vào hàm lượng VVC.

Đối với hàng hóa thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin và công nghệ số, các công đoạn tạo ra giá trị sản phẩm thực hiện tại Việt Nam được tính vào hàm lượng VVC, bao gồm: chi phí nghiên cứu, phát triển; chi phí thiết kế, lập trình, số hóa, tự động hóa; chi phí thử nghiệm kỹ thuật và kiểm thử phần mềm gắn liền với quy trình tạo ra sản phẩm.

Đối với quy định này, các công đoạn gia công, chế biến đơn giản quy định tại khoản 2 Điều 7 và các yếu tố không được xem xét khi xác định xuất xứ quy định tại Điều 8 của Nghị định không được áp dụng.

Khoản 2, Điều 7: Công đoạn gia công, chế biến đơn giản2. Các công đoạn sau đây khi được thực hiện riêng rẽ hoặc kết hợp với nhau được xem là gia công, chế biến đơn giản:

a) Công đoạn bảo quản hàng hóa trong quá trình vận chuyển và lưu kho (thông gió, trải ra, sấy khô, làm lạnh, ngâm trong muối, xông lưu huỳnh hoặc thêm các phụ gia khác, loại bỏ các bộ phận bị hư hỏng và các công đoạn tương tự);

b) Công đoạn như lau chùi, bụi bặm, tẩy rỉ, tẩy dầu mỡ, tẩy sơn hoặc tẩy các chất phủ bề mặt khác;

c) Thay đổi bao bì đóng gói và tháo dỡ hay lắp ghép các lô hàng; đóng chai, lọ, đóng gói, bao, hộp và các công việc đóng gói bao bì đơn giản khác;

d) Dán hoặc in nhãn hiệu, nhãn, mác, lô-gô và các dấu hiệu phân biệt tương tự lên sản phẩm hoặc bao bì của sản phẩm;

đ) Giần, sàng, lựa chọn, phân loại, xếp loại, xếp nhóm hoặc trộn đơn giản (bao gồm cả việc trộn các sản phẩm khác loại) mà không làm thay đổi bản chất của hàng hóa;

e) Chia tách hoặc lắp ráp đơn giản các lô hàng; lắp ráp đơn giản các bộ phận của sản phẩm để tạo nên một sản phẩm hoàn chỉnh hoặc tháo rời sản phẩm thành từng phần;

g) Xay xát, bóc vỏ, tẩy trắng một phần hoặc toàn bộ, đánh bóng và làm láng ngũ cốc và gạo; nhuộm màu đường hoặc tạo đường miếng; rạch vỏ, trích hạt hoặc tróc hạt một cách đơn giản;

h) Mài sắc, mài giũa đơn giản hoặc cắt đơn giản; là hoặc ép thẳng vải;

i) Kiểm tra hoặc thử nghiệm một cách đơn giản;

k) Giết, mổ động vật.

Điều 8. Yếu tố không được xem xét khi xác định xuất xứ Việt Nam

Yếu tố sử dụng trong quá trình sản xuất, kiểm tra, hoặc thử nghiệm hàng hóa nhưng không tạo nên hàng hóa, hoặc yếu tố sử dụng trong việc bảo dưỡng nhà xưởng, hoặc vận hành thiết bị có liên quan tới việc sản xuất hàng hóa không được xem xét khi xác định xuất xứ Việt Nam theo quy định tại Điều 4, Điều 5 và Điều 6 Nghị định này, bao gồm các yếu tố sau:

1. Nhiên liệu và năng lượng.

2. Dụng cụ, khuôn rập và khuôn đúc.

3. Phụ tùng, vật liệu dùng để bảo dưỡng thiết bị và nhà xưởng.

4. Dầu nhờn, chất bôi trơn, hợp chất và các nguyên liệu khác dùng trong sản xuất hoặc dùng để vận hành thiết bị và nhà xưởng.

5. Găng tay, kính, giày dép, quần áo và các thiết bị an toàn.

6. Thiết bị, dụng cụ và máy móc dùng để kiểm tra hoặc thử nghiệm hàng hóa.

7. Chất xúc tác và dung môi.

8. Bất kỳ nguyên liệu nào khác không cấu thành hàng hóa nhưng việc sử dụng nguyên liệu phải được chứng minh là cần thiết trong quá trình sản xuất ra hàng hóa.

Hàng hoá có xuất xứ thuần tuý Việt Nam

Đối với hàng hóa có xuất xứ thuần túy Việt Nam, Nghị định quy định các trường hợp gồm cây trồng và sản phẩm từ cây trồng được trồng, thu hoạch tại Việt Nam; động vật được sinh ra hoặc nuôi dưỡng tại Việt Nam; sản phẩm từ các động vật này; sản phẩm thu được từ săn bắn, đặt bẫy, đánh bắt, nuôi trồng, thu lượm hoặc săn bắt tại Việt Nam.

Ngoài ra, hàng hóa có xuất xứ thuần túy Việt Nam còn bao gồm khoáng sản và các chất sản sinh tự nhiên được chiết xuất hoặc lấy ra từ đất, nước, đáy biển hoặc dưới đáy biển của Việt Nam; sản phẩm lấy từ vùng nước, đáy biển hoặc dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải Việt Nam với điều kiện Việt Nam có quyền khai thác theo luật pháp quốc tế.

Các sản phẩm đánh bắt và hải sản khác được đánh bắt từ vùng biển cả bằng tàu đăng ký tại Việt Nam và được phép treo cờ Việt Nam cũng thuộc nhóm hàng hóa có xuất xứ thuần túy Việt Nam.

Bên cạnh đó, Nghị định quy định trường hợp vật phẩm thu được trong quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng tại Việt Nam không còn thực hiện được chức năng ban đầu, không thể sửa chữa hay khôi phục và chỉ có thể vứt bỏ, sử dụng làm nguyên liệu, vật liệu thô hoặc phục vụ mục đích tái chế.

Nghị định đồng thời yêu cầu tổ chức, cá nhân thể hiện xuất xứ Việt Nam chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin công bố; lưu trữ hồ sơ, chứng từ chứng minh xuất xứ và cung cấp tài liệu khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.

Hàng hóa có nhãn thể hiện xuất xứ Việt Nam đúng quy định pháp luật trước thời điểm Nghị định có hiệu lực được tiếp tục sử dụng nhãn đó đến khi hàng hóa hết hạn sử dụng.

Xem thêm
Tư vấn
Thành viên