Một báo giá thang máy tải khách được đăng tải trên mạng xã hội ghi: tải trọng 450 kg, bốn điểm dừng, cabin rộng 1.500 mm, sâu 1.400 mm, cao 2.200 mm. Đi kèm là lời giới thiệu thiết bị được thiết kế, lắp đặt theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6396.
Với kích thước được chào giá như trên, diện tích sàn của cabin sẽ là 2,1 m².


Đối chiếu với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn lao động thang máy QCVN 02:2019/BLĐTBXH và Tiêu chuẩn quốc gia về cấu tạo và lắp đặt thang máy TCVN 6396 - 20:2017, thang máy có tải trọng 450kg (6 người, tương đương 75kg/người) sẽ tương ứng với diện tích sàn tối đa là 1,3 m².
Như vậy, kích thước cabin trong báo giá nói trên lớn hơn quy định 0,80 m², tương đương khoảng 62%.

Theo quy định, diện tích sàn cabin 2,1 m² sẽ tương ứng với cấu hình thang máy có tải trọng định mức khoảng 850 kg. Để dễ hình dung, tính theo tỷ lệ tải trọng định mức và số lượng hành khách tối đa theo TCVN 6396 - 20:2017, với giả định tiêu chuẩn một người nặng 75kg.
- Thang máy tải trọng 450kg sẽ tương ứng với 6 người.
- Thang máy tải trọng 850kg sẽ tương ứng với 12 người
Như vậy, so với diện tích sàn được thiết kế, đơn vị thang máy đã thiết kế cabin thang máy có thể chứa 12 người, trong khi tải trọng định mức của thang chỉ có thể tải 6 người.
Vì sao phải giới hạn diện tích cabin?
Trong các bình luận về báo giá, có nhiều ý kiến cho rằng những thông số của thang máy trên là bình thường: gia đình ít người không cần tải trọng lớn, nhưng vẫn muốn cabin rộng để sử dụng thoải mái.
Nhưng sự “thuận tiện” này có đảm bảo an toàn hay không?
Hãy hình dung một cabin thang máy đủ rộng cho 20 người bước vào, trong khi hệ thống máy kéo, cáp tải… chỉ được thiết kế cho định mức tối đa 10 người.
Khi quá tải, dù hệ thống cảnh báo đã ngăn thang khởi hành, cabin vẫn có thể trôi ngoài kiểm soát nếu phanh máy kéo không giữ được hoặc cáp trượt trên puly kéo. Nếu cabin trôi đến ngưỡng kích hoạt mà bộ khống chế vượt tốc và bộ hãm an toàn không hoạt động đúng, không kẹp giữ được cabin trên ray dẫn hướng.
Hậu quả, cabin có thể tiếp tục lao xuống, va đập mạnh vào bộ giảm chấn ở đáy giếng thang, gây chấn thương nặng hoặc tử vong cho người bên trong.

Tại thành phố Makhachkala, Nga, một thang máy có sức chứa 6 người nhưng chở tới 9 người đã bất ngờ lao từ tầng bốn xuống đất, khiến bốn người bị gãy chân.
Như vậy, về quy định pháp luật, thông số thang máy này hoàn toàn không đạt quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật thang máy, do đó không thể thực hiện hợp quy, kiểm định an toàn.
Về vấn đề an toàn cho người sử dụng, sự sai lệch giữa diện tích cabin và tải trọng thang máy liên quan trực tiếp đến an toàn vận hành. Đặc biệt là nguy cơ quá tải, dẫn đến những sự cố thang máy nguy hiểm tới tính mạng người sử dụng.
Diện tích hữu ích của cabin được quy định ra sao?
Diện tích hữu ích của cabin là phần không gian thực tế bên trong cabin mà người sử dụng có thể đứng hoặc hàng hóa có thể được xếp đặt trong quá trình thang máy vận hành.
Nếu cabin được làm quá rộng so với tải trọng thiết kế, số người hoặc lượng hàng có thể đưa vào cabin trên thực tế sẽ lớn hơn khả năng chịu tải của thang.

Để hạn chế cabin bị quá tải về số lượng người, diện tích hữu ích của cabin phải bị giới hạn. Do đó, các quy định hiện hành tại QCVN 02:2019 và TCVN 6396-20 đều đưa ra mối liên hệ giữa tải trọng định mức và diện tích hữu ích tối đa.
Về cách tính diện tích hữu ích của cabin, TCVN 6396-20 đưa ra như sau: Diện tích cabin được tính theo kích thước lọt lòng giữa các vách cabin, trừ những vị trí có các bộ phận hoàn thiện cao 1 m tính từ mặt sàn.
Để phát hiện và ngăn hiện tượng quá tải, TCVN 6396-20 xác định diện tích cabin theo 2 giới hạn:
- Diện tích hữu ích tối đa theo tải trọng: Cabin không được quá rộng so với tải trọng định mức, nhằm hạn chế việc nhiều người cùng bước vào gây quá tải.
- Diện tích hữu ích tối thiểu theo số người: Cabin phải đủ không gian cho số hành khách định mức, dựa trên cân nặng 75 kg cho mỗi người.
Ví dụ, thang máy có tải định mức 450kg, 6 người cần diện tích hữu ích tối thiểu là 1,17 m² để hành khách có thể đứng thoải mái trong thang máy, đồng thời không vượt quá 1,30 m² theo quy định diện tích hữu ích tối đa để đảm bảo thang máy không bị quá tải.

Diện tích cabin thang máy tối đa theo tải trọng
Diện tích hữu ích tối đa của cabin theo tải trọng là diện tích cabin lớn nhất được phép thiết kế ứng với tải trọng định mức, nhằm hạn chế quá nhiều người cùng vào cabin gây quá tải.
QCVN 02:2019/BLĐTBXH quy định mối quan hệ giữa tải định mức và diện tích hữu ích tối đa của cabin tại Bảng 3. TCVN 6396-20:2017 cũng quy định nội dung này tại Bảng 6, nhằm hạn chế tình trạng cabin bị quá tải do số lượng người. Cụ thể:

Đối với các thang máy chở người và hàng dẫn động thủy lực thì phần diện tích hữu ích của cabin có thể lớn hơn giá trị xác định từ bảng trên, nhưng không được vượt quá giá trị lấy từ bảng dưới đây cho mức tải trọng tương ứng:

Diện tích hữu ích tối thiểu của cabin theo số người
Diện tích hữu ích tối thiểu theo số người là diện tích cabin ít nhất phải có để bảo đảm đủ chỗ đứng thoải mái cho số người được phép vận chuyển, với khối lượng trung bình của một người được tính là 75 kg.
Diện tích hữu ích tối thiểu của cabin giúp đảm bảo không gian cabin đủ cho số lượng hành khách
Số lượng người tối đa của thang máy được xác định bằng công thức sau với kết quả được làm tròn đến số nguyên gần nhất:

Để đảm bảo diện tích đứng trong cabin, TCVN 6396-20:2017 quy định số lượng người và diện tích hữu ích tối thiểu của cabin tại Bảng 8, cụ thể:

Quay trở lại với trường hợp trong báo giá trên, với thang máy 450 kg sẽ phục vụ tối đa 6 người. Cabin phải có diện tích hữu ích tối thiểu 1,17 m², không được vượt quá diện tích tối đa là 1,3 m².
Mong muốn một cabin rộng, thoải mái là nhu cầu của khách hàng. Trách nhiệm của đơn vị cung cấp là đáp ứng nhu cầu ấy bằng một thiết kế phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hiện hành, đảm bảo an toàn cho người sử dụng.


























